Ở phần này đặc biệt tham khảo ở Đại việt sử kí và tác phẩm Thăng long nổi giận cùng nhiều tư liệu khác nhau trên mạng.
Phần này sẽ kể ở ngôi 1 của nam chính.
Chương 21
Chiến tranh
Thời gian thấm thoát thoi đưa, mới đó đã ba mùa hoa đào nở trôi qua tựa như một cơn gió xuân. Năm tháng trôi đi, cảnh vật thay đổi khiến con người cũng không tránh khỏi mà đổi thay, đã có nhiều chuyện xảy ra giữa tôi và công chúa. Buồn vui hờn giận đều có nhưng đến cuối cùng vẫn là tình yêu của chúng tôi càng thêm sâu đậm. Tôi và Bân giờ đã thực hiện được nguyện vọng trở thành thái y, chăm sóc sức khỏe cho nhà vua và các quần thần. Mọi điều tưởng chừng đều tốt đẹp, ai ngờ Đại Việt vốn yên ổn thế, nay lại phải lâm vào cảnh binh đao từ cơn bão phương Bắc, muôn dân trăm họ vì vậy mà khổ cực, tan cửa nát nhà, lòng người căm phẫn tột cùng.
Tháng mười năm Nhâm Ngọ (1282), vua Trần Nhân Tông ra Bình Than đóng ở vũng Trần Xá, họp vương hầu và trăm quan, bàn kế công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu.
Tháng bảy năm Quý Mùi (1283), vua Trần sai trung phẩm Hoàng Ư Lệnh, nội thư gia Nguyễn Chương sang Nguyên, gặp thái tử A Thai, bình chương Ariq-Qaya, ở Hồ Quảng, hội một trăm vạn quân ở các xứ định sang năm vào đánh Đại Việt.
Tháng mười, vua Nhân Tông thân hành dẫn các vương hầu điều quân thủy bộ tập trận. Tiến phong Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc, sai chọn các quân hiệu có tài chỉ huy, chia đi nắm giữ các đơn vị.
Tháng tám năm Giáp Thân(1284), Hưng Đạo Vương điều các quân của vương hầu, duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu, chia các quân đóng giữ Bình Than và những nơi xung yếu khác.
Tháng mười một, Thánh Tông sai Trần Phủ sang hành tỉnh Kinh Hồ (nước Nguyên) xin hoãn binh.
Tháng chạp, Trần Phủ từ Nguyên trở về, tâu rằng vua Nguyên sai bọn Trấn Nam Vương Thoát Hoan (Toghan), bình chương A Lạt đem quân lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia đường vào cướp. Thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi nên quyết chiến hay tìm kế hòa với giặc. Các phụ lão đều nói "Đánh!"
Khoảng cuối tháng Chạp năm đó, Toa Đô từ Chiêm Thành viết thư tâu với vua Nguyên rằng: Giao Chỉ (1) gần với Chân Lạp, Chiêm Thành nên phải lập ngay tỉnh trên đất ấy, việc đánh sang nước khác sẽ có lợi về nhiều mặt. Vua Nguyên đồng ý, Đại Việt rơi vào thế “trước mặt, sau lưng đều có hiểm họa”. Chiến tranh chuẩn bị bùng nổ.
Tháng chạp, Giáp Thân, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6, năm 1284
Tôi đến cửa ải Lão Thử này đã được hơn một tháng để làm nhiệm vụ chăm sóc thương binh do triều đình giao cử, đây cũng là nơi Phạm tướng đóng quân cản giặc. Lúc tới, hai anh em mừng rỡ sau một thời gian dài không gặp mặt đã cùng nhau uống rượu thâu đêm để hàn huyên. Sau đó tôi được tướng quân sắp xếp cho chỗ ở trong doanh trại. Hàng ngày, mỗi lúc rảnh rỗi tôi và các binh lính trong trại theo chỉ đạo của tướng quân cùng tập trận. Tướng quân nói: “Tất cả mọi người đều phải rèn luyện thân thể thật tốt thì mới cản được giặc, báo hoàng ân.” Tôi gật gù, hứng thú gia nhập vào đội cung thủ. Ban đầu, tuy có gặp chút khó khăn nhưng với lòng kiên trì của tôi thì rốt cục sau một tuần đã có thể bắn tên trúng điểm chín khiến mọi người không khỏi trầm trồ kinh ngạc.
Chiều nọ, sau một ngày mệt mỏi tập trận thì cuối cùng tôi cũng có chút thời gian để nghỉ ngơi. Tôi ra khỏi lều nhìn lên ánh tịch dương đang thu dần những tia nắng cuối cùng của ngày về ẩn mình sau ngọn núi phía tây, xa xa làn sương khói mỏng manh phủ trắng một khoảng đồi xanh huyễn hoặc. Bất giác, trong lòng tôi chợt thấy nôn nao lạ thường.
Đi loanh quanh một vòng lại ngồi xuống gốc cây hoa gạo gần chuồng ngựa, tôi lôi lá thư của Công chúa ra đọc lại, tôi đã đọc không biết bao nhiêu lần rồi nhưng tôi vẫn muốn đọc tiếp, giống như để vơi đi nỗi nhớ nàng. Giờ này nàng ấy đang ở Thăng Long cách đây khá xa, trong thư chủ yếu là những tâm tư, những nhớ nhung của những người yêu nhau. Tôi cũng thế, tôi nhớ nàng da diết từng ngày nhưng tôi cũng hiểu hiện giờ đất nước đang lâm nguy, đang cần tôi giúp đỡ, nghĩ vậy tôi nén nỗi nhớ nhung ấy vào sâu trong tim, rồi sau này chúng tôi sẽ được đoàn tụ.
Gấp lại lá thư, tôi nghĩ về nàng, về những năm tháng còn bên nhau thật hạnh phúc biết bao. Ngồi đó một lát nữa tôi mới đứng lên định đi vào lều xem có việc gì cần làm không. Khi đi qua chuồng ngựa tôi chợt thấy có một cậu lính đang cho ngựa ăn cỏ, cậu ta nhìn rất quen, dường như đã từng gặp ở đâu đó mà tôi không nhớ lắm nhưng chắc chắn là đã từng gặp. Tôi tiến lại gần định vỗ tay vào vai thì cậu ta quay người lại, hai người nhìn nhau thoáng ngạc nhiên. Tôi nhận ra trong mắt cậu ta cũng có chút gì đó ngờ ngợ cũng giống tôi, rút cục đã gặp ở đâu nhỉ?
“Anh Phong?” Cậu lính lên tiếng hỏi sau một hồi lục lại ký ức.
“Cậu là...?” Tôi vừa kéo dài câu nói vừa nheo mắt cố nhớ lại thì cậu ta đã trả lời.
“Anh không nhớ tôi sao? Chúng ta từng gặp nhau ở nhà Đào phu tử.”
Đào phu tử? Đào phu tử. Tôi lẩm bẩm cái tên đó trong đầu đến lần thứ ba mới nhớ ra người suýt làm ân nhân của tôi vài năm trước, Đào Khoan. Nếu vậy thì tôi nhớ ra rồi, cậu lính này là Thuận. Cũng đã năm năm rồi chứ mấy, trông cậu ta bây giờ khác xưa nhiều quá. Gương mặt trông già dặn hơn với nước da rám nắng, râu ria lún phún dưới cằm sợi ngắn sợi dài, còn thân hình nhìn cũng cao hơn tôi một chút, vạm vỡ hơn tôi một chút.
“Thuận? Cậu là Thuận sao?”
“Phải! Đã lâu không gặp còn tưởng anh quên tôi rồi.”
“Cũng gần quên thật, nếu cậu không nhắc thì tôi vẫn khó mà nhớ nổi.”
Thuận mỉm cười, không rõ là cười điều gì rồi cậu ta cùng tôi ngồi xuống gốc cây gần đó chuyện trò một lúc. Nghe Thuận kể thì sau khi thầy mất, cậu ta trở về quê nhà tiếp tục theo học ông thầy khác ở làng bên một thời gian rồi nảy sinh cảm tình với người cháu gái của ông thầy, họ đã trải qua nhiều thử thách đến cuối cùng cũng được nên vợ nên chồng. Nói tới đây, tôi chợt ngưỡng mộ Thuận vô cùng. Rồi đến hồi đầu năm ngoái nghe tin giặc Nguyên sắp sang xâm lược, khắp nơi chiêu mộ binh sĩ tập duyệt chuẩn bị cho trận chiến, Thuận đã bỏ dở việc học hành để đi đầu quân. Tính đến nay cũng lâu rồi chưa về thăm nhà, Thuận nhớ vợ con mình lắm nhưng không còn cách nào khác đành phải đợi đánh đuổi giặc xong.
“Giặc lần này kéo sang mạnh hơn lần trước nhiều, không biết chúng ta có thể kháng nổi không?” Thuận nói.
“Cậu yên tâm, chúng ta nhất định sẽ chiến thắng.” Tôi vỗ nhẹ vào vai thuận mà nói.
“Sao anh chắc chắn thế được?”
“Vì tôi có lòng tin. Không phải cậu đang thiếu tự tin về dân ta đấy chứ?”
“Tất nhiên không phải! Tôi cũng có lòng tin nhất định không để bọn Thát đó mãn nguyện được.” Thuận nói, đôi mắt ánh lên đầy cương nghị.
Trông Thuận đã phấn chấn lên, tôi cũng cảm thấy vui nhưng có có chút lo lắng cho cậu. Cuộc đời đâu ai biết được chữ ngờ. Chia tay với Thuận sau một hồi hàn huyên, tôi chỉ căn dặn cậu một điều là hãy cẩn trọng trên chiến trường.
Bẵng đi một thời gian cho đến vài ngày trước, quân thám thính chạy về cấp báo giặc Nguyên đem năm mươi vạn binh mã, khí thế như nước lũ tràn sang các cửa quan Khâu Ôn, Khâu Cấp, Động Bàn... Tướng Bolquadar (Bột la cáp đáp nhĩ) dẫn theo hơn một vạn quân binh đang tiến về cửa ải Lão Thử chỉ hai ngày nữa sẽ đến chân thành. Phạm tướng nghe xong trầm ngâm vài giây rồi truyền lệnh cho quân sĩ chuẩn bị ứng phó giặc. Lòng quân vốn đã rèn sĩ khí từ lâu chỉ chờ đến ngày này để giết được nhiều giặc nên khi được lệnh, ai ai cũng háo hức gấp rút công việc còn dang dở, sẵn sàng ứng chiến.
Hai ngày sau, quả nhiên Bột la cáp đáp nhĩ đã tới, đứng từ trên tường thành nhìn ra trông giặc trùng trùng điệp điệp, đông như kiến, đi tới đâu cỏ cây đều bị dập nát, bụi tung mù mịt không khác một cơn lốc xoáy cấp mười ba. Tiếng vó ngựa rầm rập như sấm vang rền, cảm giác rung chuyển cả mặt đất nhưng điều đó đâu khiến quân ta nhụt chí mà ngược lại càng vững tâm một lòng giết giặc. Giặc Nguyên tới cách chân thành khoảng bốn trăm mét thì dừng lại dàn quân, khi ấy mới trông rõ tên tướng như thế nào. Gã là một kẻ có gương mặt dữ tợn, thân hình đô con, mặc bộ giáp chói lóa có hình đầu mãnh hổ phía trước ngực, gã cưỡi một con hắc mã được trang bị đầy đủ giáp bảo vệ. Trông khá giống mây diễn viên phim cổ trang.
Vài giây sau, Bột La Cáp Đáp Nhĩ cất tiếng An Nam còn lớ ngớ như hổ gầm, giọng nói đầy ngạo mạn.
“Các ngươi còn không mau mở cửa thành đón quân thiên triều!”
“Quốc vương ta có lệnh không cho phép bất kỳ kẻ ngoại quốc nào sang đất Đại Việt. Thân là một tướng quân, ta đâu dám trái lệnh vua.” Giọng nói Phạm tướng đối lại viên tướng kia cũng đầy uy nghiêm không kém.
“Ha ha ha. Vậy thì ta sẽ không khách khí đâu đấy.”
Nói đoạn, Bột La Cáp Đáp Nhĩ giơ tay ra hiệu công thành. Đoàn quân Nguyên được thế hô hào vang trời, chiêng trống ầm ầm, phi ngựa lên rầm rập tiến lên. Ở phía trên thành, Phạm tướng cũng ra lệnh cho cung thủ phóng tên. Hàng trăm mũi tên bay như mưa lao về phía giặc, người và ngựa trúng tên ngã đổ xuống đất, xác chết như ngả dạ. Quân Nguyên không vì thế mà nao núng, chúng giẫm đạp lên xác chết mà lao về phía chân thành. Phía sau hậu quân, viên tướng Nguyên cũng hạ lệnh phóng tên, tên bay từ dưới lên lại ở khoáng cách xa không phải là thế tốt nên nhiều tên bị lạc, hiệu quả sát thương không cao.
Hai bên giao chiến với nhau đến tận chiều mà giặc vẫn chưa phá được thành, viên tướng Nguyên đành hạ lệnh rút quân về trại. Quân ta vui mừng khôn siết, trận đánh đầu này xem ra càng làm tăng khí thế cho binh sĩ trong doanh trại nhưng không vì thế mà coi thường địch. Trận đánh ấy, tổng kết lại giặc Nguyên bị chết khá nhiều, quân ta cũng tổn thất vài người chết, người bị thương cũng không ít. Tối đó, tôi cùng các lang y tra thuốc, băng bó cho thương binh đến tận đêm mới xong.
Bước ra khỏi trướng, người tôi uể oải, miệng ngáp ngắn ngáp dài. Nghe lời ông Vũ lang y, tôi định trở về lều của mình làm một giấc. Khi đi ngang qua đống lửa trại, tôi thấy Thuận ngồi bần thần nhìn vào đống lửa, sắc mặt không mấy tốt. Dừng bước, tôi tiến lại gần hỏi han:
“Cậu không ngủ để mai còn có sức đánh giặc hả?”
Thuận ngước nhìn tôi, khẽ thở dài não nề. Tôi ngồi xuống bên cạnh cậu, định hỏi có điều phiền lòng nếu giúp được tôi sẽ giúp thì cậu ta đã lên tiếng:
“Tôi không ngủ được, trong lòng cứ có cảm giác bất an.”
“Bất an? Tại sao lại bất an?” Tôi hỏi dồn, đôi lông mày hơi nhíu lại.
“Tôi không biết nữa. Mắt trái của tôi cứ nháy liên tục, nhớ hồi trước có nghe bà thầy mo già ở làng bảo mắt mà tự dưng nháy liên tục ắt sắp có điều chẳng lành. Tôi thấy hơi sợ.”
Nghe Thuận kể, tôi cười vì không ngờ cậu ta lại mê tín đến vậy. Nhưng cũng không hẳn là không đúng, có thể cái dự cảm của cậu đang báo hiệu một điều chẳng lành. Phải! Chiến tranh mà, ngày hôm sống sót đâu thể biết được ngày mai ra sao? Thuận lo lắng cũng đúng thôi, ngay cả tôi cũng bất an thay cho cậu. Tôi chợt thở dài, đáy mắt cũng ngập tràn ánh lửa bập bùng. Lâu sau, Thuận mới lên tiếng:
“Tôi có thể nhờ anh một việc được không?”
“Cậu nói thử xem.”
Thuận nhìn tôi tin tưởng rồi rút từ túi áo ra một chiếc vòng gỗ, đưa ra trước mặt tôi. Tôi nhìn chiếc vòng chợt hiểu ý rồi đỡ lấy, lại đưa mắt khó hiểu nhìn cậu. Thuận nói tiếp:
“Đây là vật đinh tình của tôi và Tô Thị. Nếu như, tôi chỉ nói nếu như tôi không may hy sinh trên chiến trận thì nhờ anh hãy mang vật này trả lại cho cô ấy và nói rằng tôi đã phụ tình nàng, mong nàng hãy quên tôi đi và tìm cho mình một bến đỗ khác.” Nói đoạn, tôi nghe như trong lời nói có tiếng nghẹn ngào, đôi mắt ấy dường như đã rơm rớm.
Tôi lặng người đi. Ai đó đã từng nói rằng “Yêu một người là hy sinh tất cả cho người mình yêu được hạnh phúc”. Có lẽ Thuận đang làm được điều đó, cậu ấy thật cao thượng. Nghĩ lại nếu là tôi, tôi không chắc mình có thể làm được hay không? Tôi gật đầu đồng ý với Thuận mặc dù cũng không biết số phận của mình ở thế giới này ra sao, nhưng tôi còn biết làm gì hơn để an ủi cậu? Chi bằng cứ nhận lời để Thuận an tâm hơn trên con đường bảo vệ tổ quốc. Còn ngày mai như thế nào thì hãy để cho số phận quyết định. Tôi thở dài, đứng lên vỗ vỗ vào vai Thuận khuyên nhủ:
“Cũng khuya rồi, cậu nên đi nghỉ sớm còn giữ sức.”
“Anh cứ đi nghỉ đi, tôi muốn ngồi đây thêm lúc nữa.”
Thuận nói nhưng không nhìn vào tôi, tôi khẽ gật đầu lặng lẽ đi về hướng căn lều của lang y phía góc trái của doanh trại. Chợt nghe có tiếng người động lạ, tôi liền nhìn sang trướng chủ tướng thì thấy tướng quân đang bật người lên cao, vung kiếm chém từng nhát sắc bén lên không trung. Lại nữa, từng đường kiếm lóe sáng trong đêm đen một cách chuẩn xác. Khuya như vậy rồi mà đại ca vẫn còn luyện kiếm ư? Tôi tiến gần vài bước thì nghe có tiếng đọc thơ lẫn vào tiếng vù vù xé gió của đường kiếm. Thơ rằng:
“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.”
Thuật hoài? Tôi nhớ rất rõ bài thơ này đã được học từ hồi cấp ba, dạo ấy cô giáo ra đề thi vào bài này khó quá nên tôi đã bị điểm kém, kết quả là về nhà bị mẹ mắng cho một trận. Từ đó tôi mới có quyết tâm học thật tốt môn văn. Giờ nghe bài này lại nhớ về ngày xưa, tôi lẩm bẩm đọc theo bài thơ và cả phần dịch nghĩa. “Múa giáo non sông trải mấy thu/ Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu/ Công danh nam tử còn vương nợ/ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”(2). Bài thơ này thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng Phạm Ngũ Lão khi Tổ quốc bị xâm lăng. Tôi gật gù, thật đáng noi theo.
Tôi đứng đó nhìn theo từng động tác mạnh mẽ, dứt khoát của tướng quân mà trong lòng cảm thấy hào hứng. Chợt, đường kiếm lóe sáng xoẹt qua mặt tôi, tôi giật thót tim, hai mắt hoang mang nhìn tướng quân. Tướng quân cười cười, nói:
“Hôm nay ta muốn xem kiếm thuật của em thế nào?”
“Được!”
Tôi tự trấn an bản thân, nhanh chóng đón lấy thanh kiếm gỗ tướng quân ném cho rồi cùng lao ra tấn công. Hiển nhiên, tướng quân nghiêng mình né đường kiếm rồi nhanh thoăn thoắt vung kiếm ra phòng thủ. Hai anh em đánh nhau được vài hiệp thì bắt đầu mệt, cùng nhau ngồi nghỉ bên đống lửa. Đại ca nhìn tôi, thở phì phò rồi nói:
“Kiếm thuật của em cũng không tệ đấy chứ. Chẳng mấy chốc là vượt cả ta rồi.”
“Tướng quân quá khen thôi, tôi vẫn cần học hỏi nhiều.”
Phạm tướng chợt lặng im, đôi mày trau lại, ánh mắt nhìn vào đống lửa như đang suy tư điều gì đó. Lâu sau mới lên tiếng hỏi tôi:
“Hôm nay chúng ta đã giao chiến với giặc, em có suy nghĩ gì không?”
“Tướng quân! Quả là hôm nay tôi mới biết được thế nào là vó ngựa Mông Cổ. Giặc mới sang nước ta nên quân sĩ rất hung hăng muốn nhanh chóng lập công, quân giặc lại đông và mạnh như hổ đói. Tuy ngày hôm nay chúng ta khiến chúng không qua được cửa ải và cũng giết được nhiều tên nhưng so với cả hàng vạn quân thì chẳng đáng là bao, trong khi đó quân ta cũng tổn thất nhiều. Nếu cứ đánh giặc dài lâu thì e rằng…” Tôi ngưng lại e ngại nhìn vị tướng quân trẻ tuổi vẫn nhìn tôi lắng nghe. Thấy tôi không nói nữa, Phạm tướng khẽ gật đầu và nói:
“Em cứ nói tiếp đi.”
“Chỉ e chúng ta sẽ chỉ hy sinh vô ích vì vậy việc trước mắt nên bảo toàn lực lượng để sau này quân sĩ còn có sức đánh.” Tôi nói
.
“Suy nghĩ của em thật đúng ý ta.” Phạm tướng đặt tay lên vai tôi đồng tình. “Nhưng nếu lỡ để giặc tràn vào rồi không thể đuổi chúng đi thì chẳng phải là nước ta sẽ lâm nguy?”
“Tướng quân! Anh yên tâm, nhất định chúng ta sẽ giành được chiến thắng trong nay mai thôi, không những ở lần này mà còn cả lần thứ ba nữa.” Tôi quá hào hứng nên vô tình buột miệng, không cần nói cũng biết Phạm tướng nhìn tôi ánh mắt nghi ngờ.
“Sao em dám chắc vậy?”
“À…à…cái đó chỉ là suy đoán thôi. Nước ta có một người tài giỏi như Quốc công tiết chế thống lĩnh thì giặc nào dám không nể sợ, như lần giặc Nguyên vào nước ta lần thứ nhất đó, chẳng phải tên tướng Ngột lương hợp thai phải phát khiếp mà cuốn gói về nước đó sao?”
“Em nói rất đúng. Dân ta tuy ít nhưng có tinh thần yêu nước bao la hơn trời bể, dù bọn giặc có mạnh tới đâu thì cuối cùng chúng bị đánh đuổi thôi.”
“Vâng! Sự thật đúng là như vậy mà.” Tôi nói.
Chúng tôi còn ngồi đó trò chuyện thêm một lúc nữa thì tôi cảm thấy cơn buồn ngủ đã thực sự kéo đến, tướng quân thấy vậy nên bảo tôi đi nghỉ trước. Tôi cúi chào tướng quân, đứng dậy bước vào lều và thả người xuống chiếu cứng cáp. Đôi mắt bắt đầu trĩu nặng, tâm thức bỏ thế sự trên đời dần chìm sâu vào giấc ngủ êm đềm.
...
Ngày hôm sau, Bolquadar lại đến. Lần này quân đông hơn hôm qua và có phần hiếu chiến hơn, có lẽ do trận chiến đầu tiên đã thất bại nên khiến quân giặc càng như hung hăng muốn nuốt chửng con nai trước mắt. Giặc Nguyên công thành nhiều lần, quân ta vẫn kiên trì cố thủ bảo vệ cổng thành không cho giặc tràn sang. Binh sĩ hai bên chết nhiều chủ yếu là giặc Nguyên, xác chồng lên xác, máu nhuốm đỏ cỏ cây và đất cát, khói lửa mịt mù cả một vùng trời bi thương.
Hôm ấy, giặc đánh đến trưa thì rút. Quân ta tuy tổn thất không nhiều nhưng binh lực cũng đã suy giảm phần nào, nếu cứ tiếp tục đánh thế này chỉ e vài bữa nữa sẽ khó mà bảo toàn. Vấn đề quan trọng vẫn là phải bảo toàn lực lượng theo chỉ dụ của Hưng Đạo vương vừa đánh vừa lui không nên liều mạng chống trả.
Buổi chiều lại trở về với công việc của thầy thuốc, tôi chạy tới chạy lui chữa trị cho thương binh. Nhìn đám quân sĩ bị thương nằm la liệt trong trại, máu bê bết, rồi cả những cái xác chất đống ngoài chiến trường tôi không khỏi chạnh lòng. Những con người ấy, những người anh hùng ấy đã hiến dâng cả thời trai trẻ cho Tổ quốc nhưng khi chết đi chỉ còn lại đống gò đất rồi đến vài năm sau thì không ai còn nhớ đến công lao của họ. Tôi thở dài, buột miệng hỏi một câu ngớ ngẩn.
“Sao con người ta cứ phải gây ra chiến tranh khiến bao nhiêu người phải hy sinh, rồi còn những người thân của họ ở nhà thấp thỏm mong ngóng? Đều là cùng loài cả, sống cuộc sống thanh bình không tốt sao?”
“Tất cả là vì lòng ích kỷ của con người. Chính vì dã tâm của vua Nguyên quá lớn, ông ta muốn đất của mình ngày càng mở rộng.” –Ông Vũ đang ngồi cạnh tôi, nghe vậy liền đáp..
“Vì lòng ích kỷ của một người mà khiến nhiều người khác phải chết, liệu có đáng?” –Tôi đưa mắt nhìn xa xăm, nơi có những con người đáng thương phải nằm chất đống dưới nền đất lạnh lẽo. Một cảm giác buồn man mác phủ lấy đôi mắt tôi, và dường như nó ám ảnh cả những người xung quanh cùng tâm trạng.
Xong xuôi mọi việc trong trại cũng là lúc xế chiều, bầu trời nhuốm màu đỏ rực của hoàng hôn hòa lẫn vào màu xám xịt của khói lửa, khung cảnh thật thê lương. Tôi chui ra khỏi lều, vươn vai khiến các đốt xương kêu răng rắc rồi lại tiến về phía lu nước, múc gáo nước mát lạnh rửa mặt cho tỉnh táo. Cuộc chiến này sẽ còn gây ra bao nhiêu tội ác nữa đây?
***
Ấy là ngày hai mươi bảy tháng chạp năm Giáp Thân. Giặc Nguyên tiếp tục công thành lần nữa, quân ta để bảo toàn lực lượng nên theo sự chỉ huy của Phạm tướng lấy tiền quân làm hậu quân vừa đánh giặc vừa lui dần về các cửa sau. Ngày hôm ấy, giặc tràn vào như nước lũ vỡ đê, vó ngựa đi đến đâu là nơi đó trở thành địa ngục, cảnh vật xác xơ hoang tàn. Quân ta chống trả nhưng thủ là chính, vừa đánh vừa lui dần vào rừng núi. Cuộc chiến xảy ra, tiếng hò hét, tiếng la thét, tiếng chử.i bới pha lẫn tiếng binh khí va chạm vào nhau tạo thành một cảnh tượng hỗn loạn kinh khủng.
Tay tôi cầm chắc thanh trường kiếm, bám sát vào đoàn quân vừa chạy vừa phòng giặc, tình thế căng như dây đàn. Giặc thấy ta lui binh thì được thế đánh càng nhanh, càng mạnh, càng hăng say đến khi vào rừng địa hình hiểm trở mới khiến tiến quân của giặc chậm lại. Quân ta đi được một đoạn tới nơi an toàn thì điểm lại quân số chỉ thiếu có vài người, có lẽ họ đã tử trận. Tôi chợt thấy đau lòng, tiếc nuối cho họ và đặc biệt cho Thuận. Tôi thầm nhủ, mọi người hãy yên nghỉ Đại Việt ta tất sẽ giành lại được lãnh thổ chỉ trong nay mai thôi, và lời hứa giúp Thuận nhất định tôi sẽ làm.
Ở quê nhà, hàng ngày nàng Tô Thị vẫn thường dắt theo đứa con trai mới hai tuổi lên núi mà mong ngóng người chồng trở về. Nàng đợi mãi đợi mãi cho đến khi sau một đêm mưa to gió lớn, người dân trong làng sững sờ khi thấy một khối đá hình dáng một người thiếu phụ đang ôm con đứng trên núi, mặt quay về phương nam. Dân gian gọi đấy là hòn Vọng Phu nghĩa là chờ chồng trở về.
Lại nói, sau trận chiến cuối cùng ở cửa Lão Thử ấy thì cũng hay tin các ải Động Bàn, Khả Ly do tướng Tần Sầm và đại liêu ban Đoàn Thai cũng đều thất thủ. Tướng Tần Sầm đã hy sinh trên mặt trận còn Đoàn Thai bị giặc vây bắt, sống chết ra sao thì chưa ai biết. Lòng quân vì thế mà nao núng phần nào. Chúng tôi theo sự chỉ huy của Phạm tướng tiếp tục lui về bám giữ ở tuyến sau, cứ thế dần dần lui về Vạn Kiếp hội tụ với các đoàn quân khác.
Về tới Vạn Kiếp chưa được một canh giờ thì quân của Hưng Đạo vương đã đến. Ngài gấp gáp tập hợp các tướng sĩ vào trong trướng để bàn kế đánh, phòng, chấn chỉnh thủy binh, bộ binh, kỵ binh, cắt đặt tướng và chia quân trấn giữ các nơi hiểm yếu, cản đường giặc đổ về Thăng Long. Từ đây chúng tôi đi theo đoàn quân của Hưng Đạo vương cùng trở về Thăng Long.
Chẳng mấy chốc, Thoát Hoan dẫn quân từ ải Nội Bàng đánh vào Vạn Kiếp, Hưng Đạo vương chỉ đạo quân sĩ lui binh ra sông Thiên Đức. Quân địch cưỡi ngựa đuổi riết theo, đến bờ sông do nước sông dâng cao nên không thể tiếp tục đi được, giặc đành ngậm ngùi đứng nhìn quân ta chạy thoát. Đoàn quân ta theo đường thủy mà rút về Thăng Long sau đó lại cùng hai vua tiến về phủ Thiên Trường lập đồn trại. Tại đây, không ngờ rằng tôi đã gặp được một người, cô em gái sau bấy nhiêu năm xa cách.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét