Chương 22
Biệt ly
Ngước nhìn trời gửi câu nguyện ước
Nghe cuộc đời mãi chuốc đau thương
Làm sao xây mộng uyên ương?
Sắc hương ảo vọng vấn vương lệ sầu.(0)
Phủ Thiên Trường những ngày đầu xuân, gió hiu hiu thổi làm không khí càng thêm se lạnh. Tôi đến đây đã được hai ngày rồi, xem chừng địa thế nơi đây rất thích hợp cho việc đóng quân và bàn việc nước. Cũng mấy ngày qua, ngựa lưu tinh chạy về đây cấp báo liên tục, chủ yếu là những tin xấu ở các mặt trận cửa ải. Quân Thoát Hoan giờ này hẳn đã tới Thăng Long nhưng chúng không thể ngờ rằng kinh thành bây giờ chẳng khác nào một ngôi thành bỏ hoang. Theo kế “Thanh dã” (1) của Quốc công tiết chế, nhà vua đã hạ lệnh cho dân chúng trốn đi nơi khác còn người của hoàng gia thì chuyển về phủ Long Hưng trú tạm trước khi giặc đến từ vài ngày trước. An Tư hiện giờ cũng ở đó, tiếc rằng tôi không thể gặp được nàng dù rất nhớ nàng. Hiện giờ, việc lớn quốc gia phải là trên hết.
Buổi chiều hôm ấy, có anh lính hớt hải cưỡi ngựa từ ngoài chạy vào đại bản doanh. Xem chừng là quân viễn thám, trông sắc mặt anh ta không mấy tốt nên nhiều người trong doanh trại không khỏi lo lắng, đoán già đoán non sự việc. Anh lính được dẫn vào trướng tướng quân gặp hai vua và Quốc công tiết chế. Tôi đứng bên ngoài nhưng vẫn nghe được loáng thoáng những lời tâu của anh lính:
“Bẩm Đức vua! Bẩm Quốc công. Các ải ở Hoan Châu đã bị giặc phá vỡ, Chương Hiền hầu cấu kết với giặc dẫn binh đánh úp quân ta.” Nói tới đây, anh lính chợt ngưng lại, vẻ mặt đau đớn khiến mọi người sốt ruột. Lát sau mới cất lời. “Bẩm! Đại liệu hộ và Chiêu Hiến vương không may đã…đã tử trận rồi ạ!”
Nghe tin này xong, ai nấy cũng đều bàng hoàng rồi căm phẫn. Mới mấy ngày trước, tin Bảo Nghĩa hầu hy sinh trên bờ sông Thiên Mạc đã khiến mọi người đau lòng còn chưa kịp nguôi ngoai, nay lại hay tin hai vị tướng anh dũng nữa hy sinh thì thử hỏi làm sao mà không căm phẫn cho được? Đáng hận nhất là Trần Kiện, đường đường là một người thuộc dòng dõi hoàng gia mà lại đi câu kết với giặc hại chính dân tộc mình. Chỉ hận không thể phanh thây hắn ngay lúc này.
Tình thế xoay chuyển, tin Chương Hiến hầu hàng giặc chẳng mấy chốc đã lan ra khắp doanh trại khiến nhiều người phẫn nộ, cũng có nhiều người cảm thấy nhụt chí. Tối hôm ấy, vua Thánh Tông nhận biết được tình thế quân ta đang rơi vào nguy hiểm nên đã phái Trung hiến hầu Trần Đường và Thiện Trung đại phu Nguyễn Nhuệ mang theo thư dụ hoãn binh sang Thăng Long gặp Thoát Hoan.
Ngay sáng hôm sau, hai người họ quỳ gối lạy nhà vua một lạy rồi cùng lên ngựa hướng về phía thành Thăng Long. Tôi đứng ngoài cổng thành nhìn theo bóng người và ngựa khuất dần, chuyến đi lần này lành ít dữ nhiều chỉ mong họ được bình an trở về.
Cuộc sống hàng ngày ở đây không khác lúc tôi còn ở Lão Thử là mấy, chỉ có điều công việc đắp thuốc, sắc thuốc cho thương binh chiếm nhiều thời gian hơn nên việc rèn luyện của tôi vì thế mà ít đi. Ở phủ Thiên Trường này thật may khi gặp lại Hoa Xuân, cũng biết thêm được tung tích của cha nuôi hiện đang ở Trường Yên nên tôi đã cảm thấy an tâm hơn nhiều phần. Thế giới này, người tôi luôn quý trọng nhất vẫn là cha nuôi, nhớ lại ngày ấy nếu không có ông thì hiện giờ chắc tôi đã chẳng còn sống mà đứng ở đây.
“Anh! Suy nghĩ gì mà chú tâm thế?”
Tôi giật mình nhìn Xuân đang cau mày nhìn tôi tò mò. Xuân bây giờ đã lớn thật rồi, tuy cái tuổi mười ba ở thế giới của tôi thì em vẫn là con nít nhưng ở thế giới này dường như con người ta trưởng thành hơn, chín chắn hơn. Ngày trước lúc gặp em ở đây tôi đã xuýt không nhận ra bởi cái dáng vẻ, cách cư xử có chừng mực của một cô gái mới lớn.
“À không! Em xong việc rồi hả?” Tôi đáp qua loa, nhìn lên bầu trời cũng gần trưa. Trời hôm nay có ửng nắng hơn đôi chút nhưng vẫn không thể xua đi cái giá lạnh ngày xuân.
“Vâng! Em vừa mang cháo cho mấy anh thương binh, trông sắc mặt họ đã hồng hào hơn. Xem ra cũng sắp lành bệnh anh nhỉ?”
“Ừ! Vừa rồi anh mới thay thuốc cho họ, vết thương đã lành lại hơn trước. Chắc vài ngày nữa là có thể luyện tập được.” Tôi ngưng lại vài giây rồi nhớ ra điều gì đó nên hỏi. “À phải rồi, hôm trước em có bảo đã gặp ông ở Trường Yên hả? Ông có khỏe không?”
“Vâng, trông ông vẫn còn khỏe lắm. Ông còn bảo muốn ra trận giết sạch bọn Thát cho hả dạ nhưng mọi người khuyên ngăn bảo ông ở hậu phương chữa trị binh sĩ cũng là giúp dẹp giặc rồi nên ông mới chịu.”
“Cũng lâu rồi anh không gặp lại ông. Lần cuối cùng anh gặp là ở hội nghị Diên Hồng nhưng lúc đó cũng có việc bận nên không thể trò chuyện lâu dài được. Giờ nghe em kể ông vẫn khỏe là anh thấy mừng rồi.” Tôi định hỏi thêm vài điều về cuộc sống của Xuân thì bị ngắt lời bởi tiếng gọi của một anh lính.
“Lương thái y! Chủ tướng có lệnh vời ông vào hầu.”
“Tôi biết rồi!” Tôi đáp, nhìn Xuân rồi cười bảo. “Anh vào hầu chủ tướng một lát.”
“Anh cứ đi đi.”
Tôi đứng lên, nhanh chóng đi vào trướng tướng quân. Thấy bên trong Quốc công tiết chế đang đứng nhìn chăm chú tấm bản đồ Đại Việt bằng da, vẻ mặt đăm chiêu suy nghĩ việc quân. Tôi lặng lẽ bước vào cung tay, khom người chào:
“Quốc công có điều gì cần dặn dò tôi ạ?”
“Ông cứ đứng thẳng lên. Ta chỉ muốn hỏi về tình trạng của thương binh hiện nay thôi, ông hãy trình bày cho ta biết.”
Giọng ngài trầm ấm, ánh mắt nhu mì nhìn tôi. Tôi đứng thẳng người, không ngần ngại kể về tình trạng của binh sĩ cho ngài ấy nghe. Nghe xong lại nhận được một tiếng “Tốt. Ông vất vả rồi!”
“Dạ không dám, đó là bổn phận của thái y thôi ạ.” Tôi e ngại nói nhưng trong lòng quả thấy vui vui.
“Được rồi! Ông đi làm việc của mình đi.”
Tôi cung kính chào rồi lui ra ngoài. Không biết Xuân đã đứng ngoài đợi từ bao giờ, khi thấy tôi em cười và chìa cánh tay cầm vật gì đó ra trước mặt tôi:
“Cái này, anh vừa làm rơi này.”
Tôi nhìn lại cho kỹ rồi mới nhận ra đó là miếng ngọc bội hình mặt hổ, tôi nhớ miếng ngọc này là mình nhặt được vào một đêm đi dạo trong kinh thành. Từ đó đến nay vẫn chưa tìm được chủ nhân nên vẫn luôn mang theo bên người.
“Đây là miếng ngọc bội anh nhặt được cách đây cũng khá lâu rồi.” Tôi định đưa tay ra nhận lại thì phát hiện ánh mắt tiếc nuối của Xuân đang nhìn vào miếng ngọc, chắc con bé thích nó lắm. Dù gì thì tôi cũng có một mảnh ngọc đeo trên cổ rồi, mang thêm miếng khác không hay cho lắm nếu Xuân thích thì đem tặng nó vậy. Nghĩ thế, tôi đẩy tay về phía nó. “Dù sao anh cũng có mảnh ngọc đeo trên cổ rồi, nếu em thích cái này thì anh tặng.”
“Thật chứ? Cám ơn anh.”
Xuân thích thú nhận miếng ngọc, em ướm thử treo trên thắt lưng lủng lẳng trông khá hợp với bộ trang phục đang mặc. Tôi cũng gật gù khen đẹp. Cùng lúc ấy, Hoài Văn hầu đi ngang qua tính vào trướng gặp Quốc công thì thấy tôi và Xuân đứng ngoài. Anh ta dừng lại, tia mắt hiện rõ vẻ choáng ngợp khi nhìn miếng ngọc.
“Cái…cái đó nhà ngươi lấy ở đâu ra vậy?”
“Cái này là tôi nhặt được trên đường khi còn ở Thăng Long.” Tôi đáp cũng ngạc nhiên vì thái độ kỳ lạ của vị hầu gia.
“Ờ! Vậy hả? Thật ra cái đó là của ta, có thể cho ta xin lại không?”
Ra là vậy. Nhưng mà, rõ ràng cái này là của người áo đen chạy trốn quan binh khi ấy mà. Lẽ nào người đó…Tôi đưa ánh nhìn nghi hoặc vào anh ta, nếu thế thật thì vụ ám sát bất thành Sài Xuân là do Hoài Văn hầu ư? Anh ta quả quá to gan rồi cũng may lần đó việc thích sát không thành nếu không thì nguy to.
“Nếu là của ngài thì tôi xin trả lại. Có điều tôi đã lỡ tặng nó cho em gái rồi.” Tôi e ngại nhìn Xuân, em biết ý liền ngần ngừ trả lại. Hoài Văn nhận miếng ngọc, chỉ nói thêm một câu rồi quay bước đi.
“Cám ơn!”
…
Ba ngày trôi qua, tin tức từ Thăng Long vẫn bặt vô âm tín. Hai vua bắt đầu sốt ruột, lo lắng muốn phái người đi do thám nhưng thành Thăng Long bây giờ có khác gì hang cọp dễ vào mà khó ra. Hơn nữa việc đột nhập được vào cung càng hết sức khó khăn, vậy nên hai vua đành nghe theo Quốc công chờ đợi thêm vài ngày.
Bốn ngày nữa tiếp tục trôi qua thách thức lòng kiên nhẫn của mọi người. Tính đến giờ đã được một tuần rồi, hai quan đi sứ bây giờ ra sao thì không ai dám chắc. Rồi đến buổi trưa ngày hôm ấy, người ta thấy từ phía Thăng Long có ngựa chạy về. Trên lưng ngựa là hình bóng của Trung hiến hầu, vẻ mặt ông không mấy lạc quan khi đi vào doanh trại. Trần Đường xuống ngựa, ngay lập tức đi vào trướng gặp hai vua và các tướng khác.
Tôi khi ấy đang băng bó vết thương ở cánh tay cho Chiêu Thành vương nên cũng có mặt trong trướng. Thấy từ bên ngoài, Trung hiến hầu bước vào, ông khom người thi lễ với quan gia và thánh thượng. Thánh Tông thấy hầu còn bình an vô sự thì trong đáy mắt đã bớt đi cái âu lo, ngài lại thấy có mỗi hầu trở về nên bèn hỏi:
“Sao có mỗi mình hầu về, còn Thiện Trung đại phu đâu?”
“Bẩm! Đại phu bị giữ lại ở Thăng Long làm tin, Thoát Hoan thả thần về để báo tin.” Trần Đường cung tay đáp.
“Được rồi! Hầu hãy ngồi xuống đã rồi kể cho mọi người nghe tường tận việc đi sứ.”
Thánh Tông sai người mang ghế đến cho Trung hiến hầu, hầu đa tạ rồi ngồi xuống ghế, nhấc chén trà lên nhấp một ngụm rồi mới kể. Việc đi sứ lần này bất thành, không những thế Thoát Hoan còn cho người nhốt hai sứ vào buồng củi cho tới tận tối hôm qua Ô mã nhi mới gọi họ vào bàn rượu. Y cho hai sứ xem một bức tranh vẽ công chúa An Tư và ngỏ ý muốn nàng ấy đến gặp Thoát Hoan. Nghe tới đây, tôi chợt giật mình. Ôi! An Tư, sao Thoát Hoan lại biết đến nàng?
Sau một hồi thuyên giải về cuộc đi sứ, bầu không khí bỗng trở nên nặng nề. Cả Nhân Tông và Thánh Tông đều quá đỗi khó xử. Trong trướng không ai nói gì, mặt cúi gằm thở dài. Tất cả đều đang suy nghĩ nên làm thế nào cho phải, duy chỉ có Quốc công lại đang băn khoăn kẻ nào đưa cho Thoát Hoan bức tranh vẽ công nương để y phải bận tâm.
Lát sau, Nhân Tông mới cất lời ngỏ ý kiến của Hưng Đạo:
“Thưa Quốc phụ! Sự việc là như thế, chẳng hay Quốc phụ có ý gì không?”
“Bẩm! Đây là việc đối sách bang giao xin bệ hạ cho thần miễn bàn đến.” Quốc công khẽ vuốt chòm râu, giọng nói ôn tồn.
Nghe đến vậy, nhà vua cũng không dám hỏi thêm gì nhiều chỉ đưa ánh mắt đắn đo nhìn thượng hoàng mà rầu rĩ. Sự việc đó, ngày hôm ấy vẫn chưa giải quyết được nên tôi cũng tạm thời có thể an tâm.
Đêm nằm trong lều tôi không sao chợp mắt được. Trong người luôn có cảm giác bồn chồn, lo âu kỳ lạ. Không rõ An Tư đã biết chuyện này chưa? Nếu phải lựa chọn thì nàng ấy sẽ chọn điều gì? Chung tình với tôi hay sẽ đền nợ nước? Tôi biết việc chọn lựa này không phải dễ dàng gì, ngay cả hai vị vua cũng không dám quyết vì sợ có lỗi với nàng. Dù biết vậy thì tôi có thể làm được gì đây?
Trời đã điểm canh hai, nhìn phía đông nền trời đang dần hiện ra một màu xanh nhàn nhạt. Đêm qua, tôi đã suy nghĩ suốt đêm và quyết định tôi thể để mất nàng, tôi không thể. Trời chưa kịp sáng tôi đã ra chuồng ngựa, dắt một con ra khỏi trại, nói dối với lính gác là lên núi hái thuốc. Tôi leo lên lưng ngựa hướng về phía Long Hưng rồi thúc mạnh, con ngựa giật mình phóng về phía trước.
Ngựa lao đi không ngừng nghỉ mãi cho tới tận trời sáng hẳn, khung cảnh xung quanh cũng hiện ra rõ rệt hơn. Tôi ngắm về hướng xa xa đã thấy hình dáng của phủ Long Hưng nằm lấp ló sau hàng cây phượng vĩ mới lên chồi non xanh mơn mởn, tôi mừng thầm thúc ngựa cho chạy nhanh hơn nhưng dù là thế con ngựa này cũng vẫn chỉ chạy được với tốc độ hiện giờ. Tôi bắt đầu nôn nóng, con tim đập thình thịch như muốn vỡ ra. Lâu rồi nhỉ, tôi chưa được gặp nàng dù chỉ một lần. Chiến tranh đã chia cắt chúng tôi, chia cắt những người yêu nhau tha thiết.
Chỉ còn cách bảy trăm mét nữa là tới. Tôi mỉm cười rồi chợt nhận ra hình bóng An Tư cùng cô tì nữ đi lặng lẽ dưới hàng cây xanh, dáng người trầm mặc như đang suy tư điều gì. Ngựa chạy gần tới chỗ nàng, tôi kéo dây cương hã.m lại, con ngựa kịp biết điều dừng ngay trước mắt nàng.
Tôi nhảy xuống ngựa, vội ôm chầm lấy nàng để vơi đi nỗi nhớ mong bao ngày. Cơ thể này, hình như đã gầy đi một chút, đôi mắt này hình như đang vương vất nỗi u sầu, còn mái tóc này hình như đã dài hơn xưa. Hương tóc phảng phất trong không khí mùi oải hương thật dễ chịu. Nàng cũng nhoẻn cười ôm chặt lấy tôi mãi lâu sau mới chịu buông tay. Chắc nàng chưa biết tin gì, cũng phải tin tức chỉ mới từ hôm qua nên chưa ai biết cả.
Tôi nhìn nàng giờ lâu, chắc nàng cũng nhận ra những biểu lộ nhiều xúc cảm lẫn lộn buồn vui tủi hờn và có cả sự day dứt trong đáy mắt tôi. Sắc mặt nàng bỗng trở nên lo lắng, nàng hỏi:
“Có chuyện gì sao?”
Tôi khẽ gật đầu, nắm chặt tay nàng cùng bước đi về phía trước. Mãi sau, tôi mới mở lời:
“Ta ở phủ Thiên Trường nghe được tin Thoát Hoan muốn nàng sang Thăng Long cầu thân.”
Nghe tới đây, An Tư chợt dừng lại, gương mặt chất chứa nỗi hoang mang, nàng nhìn tôi, môi khẽ run run hỏi lại:
“Có thật thế không?”
“Chính tai ta nghe Trung hiến hầu đi sứ về tâu, không thể sai được. Quan gia và thượng hoàng cũng đang đau đầu về việc này. Suốt đêm qua ta đã không ngủ được, ta rất lo cho nàng.”
An Tư không nói thêm gì, nàng cúi đầu xuống dường như đang suy ngẫm rất say sưa. Chúng tôi nắm tay nhau cùng đi dạo dọc con đường đê, gió từ đồng lùa vào lành lạnh khiến An Tư rùng mình, hai tay ôm lấy bờ vai hao gầy. Tôi liếc nhìn nàng rồi tự cởi chiếc áo khoác ra quàng lên tấm thân mỏng manh ấy cho ấm áp. Chúng tôi tiếp tục dạo bước, không ai nói một lời nào. Tôi đã từng rất muốn gặp nàng, đã từng có nhiều điều muốn nói với nàng nhưng tại sao đến bây giờ những lời ấy lại bay đi đâu hết để lại trong tim một nỗi niềm đầy tâm sự khiến tôi bối rối không biết nên bắt đầu từ đâu?
Dừng lại trước cổng một ngôi chùa cổ, chúng tôi quyết định bước vào trong. Ngôi chùa vắng lặng, khói hương đã lạnh ngắt từ bao giờ, xung quanh mạng nhện thỏa sức giăng tơ chằng chịt khiến khung cảnh trong chùa trở thành một cõi âm u. Tôi dắt An Tư vào thắp nhang, hai chúng tôi quỳ xuống trước bức tượng Quan âm, hai tay chắp lại, mắt lim dim khấn cầu. Cầu điều gì bây giờ? Nếu thực sự có Quan âm, nếu cầu nguyện được đáp ứng thì tôi sẽ cầu dân Nam không phải chịu nhiều nỗi đau mất mát, tôi sẽ cầu cho lũ giặc kia sớm bị đuổi về nước và tôi cũng sẽ cầu cho An Tư không phải phiền lòng vì điều gì. Nhưng tôi biết, những điều ấy thật sự quá xa vời.
Xong, chúng tôi ra khu vườn sau đi dạo một lúc thì tới chiếc ghế gỗ dưới gốc cây bồ đề, cỏ mọc xung quanh cao tới chân gối, chúng tôi quyết định dừng lại ngồi nghỉ. Lúc này, An Tư mới nhìn tôi cất lời:
“Việc Thoát Hoan muốn ta sang hầu, chàng dạy ta nên làm thế nào cho phải, ta nguyện nghe theo lời chàng?”
Tôi nghe An Tư hỏi vậy trong lòng cảm thấy thật khó xử. Ngay cả hai vua cũng không quyết được huống chi tôi chỉ là một thứ dân bình thường, việc nên làm thế nào mới phải đây? Dù muốn dù không thì tôi cũng quyết không để nàng chịu khổ, không thể để nàng rơi vào tay Thoát Hoan được. Tôi muốn nàng mãi chỉ là của tôi nhưng sẽ ra sao nếu Thoát Hoan không có được nàng? Và sẽ ra sao nếu lịch sử bị thay đổi? Tôi mặc kệ. Con người, ai cũng có lúc ích kỷ vậy nên tôi cũng xin được ích kỷ một lần, chỉ lần này thôi tôi không thể đánh mất nàng.
“Chúng ta hãy cùng trốn đi. Đến một nơi thanh bình, không màng thế sự. Nàng sẽ đi với ta chứ?”
“Nhưng…” An Tư ngập ngừng, khi nàng nhìn vào tôi thật tin tưởng, ánh mắt nàng sáng rực lên, nàng khẽ gật đầu. “Vậy ta sẽ theo chàng.”
Tôi đưa tay ra nắm chặt lấy cánh tay mềm mại của nàng, truyền cho nàng chút ấm áp, sự tự tin. Sau đó, An Tư gọi Kim Liên đang ở ngoài vào dặn dò:
“Kim Liên! Ta sắp phải đi, có thể sau này chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa. Bây giờ ta xin cám ơn sự chăm sóc của em những năm qua.” Nàng dừng lại, tháo chiếc trâm vàng trên đầu và chuỗi ngọc trai trên cổ gói vào chiếc khăn lụa và đặt vào tay Liên rồi nói tiếp. “Đây là chút tình ta gửi lại, mong em đừng từ chối.”
Kim Liên rươm rướm nước mắt, đẩy tay trả lại cho An Tư rồi quỳ sụp xuống đất, chất giọng nghẹn ngào vang lên:
“Được theo hầu công nương đã là phúc phận của con, con đâu dám nhận. Ơn công nương đối với con còn hơn trời biển, xin công nương hãy cho con theo với dù có khó khăn vất vả con cũng xin theo hầu công nương đến cùng.” Nói xong Kim Liên khóc ru ri như một đứa trẻ. An Tư trông thấy cũng không đành lòng, nàng cúi xuống đỡ Liên đứng lên, khẽ lau giọt nước trên khóe mi cô.
“Nếu em đã muốn vậy thì ta không phản đối.”
Kim Liên nghe được câu ấy thì mừng rỡ, quên đi phép tắc mà ôm chầm lấy chủ nhân.
Như thế chúng tôi ra khỏi ngôi chùa cổ, leo lên ngựa rồi đi về hướng nam cũng không định rõ là sẽ đi đâu, chỉ là cứ đi thế thôi. Con đường dài, chúng tôi đi hết thôn này lại tới làng khác. Cảnh vật tan hoang, tĩnh lặng không bóng người bởi lúc này người dân đã rủ nhau vào rừng lánh giặc. Càng đi mới biết được chiến tranh đã gây ra nhiều tổn hại như thế nào, cảnh vật làng quê vốn thanh bình là thế mà giờ đây chỉ còn lại những bãi hoang sơ. Chim chóc không thèm kêu, cây cỏ ủ rủ trước thềm xuân tươi mát.
Khi em và anh xa cách nhau, nhân thế lặng lẽ thay đổi
Trải qua trăm sông ngàn núi, phải chăng có cùng một tấm lòng
Không cầu đời đời kiếp kiếp, chẳng mong sớm sớm chiều chiều
Chỉ cần thật bình dị dắt tay nhau du ngoạn chốn nhân gian.(2)
Trời bắt đầu xế chiều, ánh hoàng hôn buông xuống nhuốm một màu đỏ rực phía Tây. Chúng tôi dừng lại khi đến thôn Kiên Đức và quyết định sẽ qua đêm ở đây. Trong thôn không một bóng người, đến lợn gà cũng chẳng thấy đâu, không gian âm u lạnh lẽo đến sởn gai ốc. An Tư cũng cảm thấy vậy, nàng nép sát vào người tôi, hai tay bấu chặt vào cánh tay tôi, còn cô tì nữ Kim Liên thì đi theo sau bám sát vào người chủ nhân, người vẫn còn hơi run run.
Đi tới căn nhà gỗ lớn hơn những nhà khác một chút, tôi dừng lại ngó vào xem. Bên trong có tiếng động, hình như còn thấy bóng người. Rốt cục thôn này vẫn có người ở. Tôi gọi với vào trong:
“Xin hỏi có ai ở trong đó không?”
Vài giây sau, có ông lão tóc bạc phơ tay chống nạng khập khiễng bước ra. Lão nhìn chúng tôi nghi ngại một hồi rồi hỏi:
“Các người là ai?”
“Chúng cháu là người qua đường, xin hỏi cụ người trong thôn này đi đâu hết rồi?”
“Họ đi chạy giặc cả rồi, không còn ai cả chỉ có mình lão không đi được nên phải ở lại.” Ông lão đáp.
“Vậy có thể cho chúng cháu ngủ nhờ một đêm không?”
“Được! Vào đi.”
Tôi, An Tư và Kim Liên buộc ngựa vào cột tre trước cổng rồi cùng đi vào. Ông lão mến khách còn cho chúng tôi ăn tối, tuy chỉ là mấy món dân dã nhưng quả thật lại là sơn hào hải vị trong hoàn cảnh này. Xong, ông lão còn pha trà mời chúng tôi ngồi xuống cùng chuyện trò. Tôi nhìn ngắm căn nhà tranh một hồi thì dừng lại trước bộ áo giáp treo ngay ngắn trên tường, tò mò tôi hỏi:
“Hình như trước kia cụ cũng từng ở trong quân đội?”
Ông lão gật gù rồi kể:
“Trước ta từng là lính dưới trướng của Hưng Đạo đại vương. Trong một trận đánh với bọn Thát năm Đinh Tị (1258) do sơ ý nên đã bị thương ở chân đến khi thái bình lập lại, ta được ngài cho về quê an dưỡng. Nhớ lại bấy giờ, cả nước đồng lòng đánh đuổi giặc khí thế hừng hực. Tuy giặc mạnh nhưng quân ta cũng không cảm thấy nhụt chí mà còn đánh rất hăng.” Nói đến đây ông lão chợt thở dài. “Sau bấy nhiêu năm mà bọn Thát vẫn không chịu từ bỏ, lần này bọn chúng sang còn đông hơn trước nhưng ta tin nhất định bọn chúng sẽ sớm bị đuổi đi thôi. Chỉ tiếc rằng, tình trạng ta bây giờ không thể ra trận sát cánh cùng nhân dân giết giặc được. Là một con dân của Đại Việt ta cảm thấy thật là hổ thẹn.”
Nghe ông lão nói, tôi chợt thấy trong lòng chột dạ. Ngay cả một ông lão cũng muốn ra trận giết giặc huống hồ tôi lại là một đấng nam nhi, một con dân Đại Việt mà lại có ý nghĩ bỏ mặc sự đời để chạy theo hạnh phúc của đời mình. Tôi khẽ liếc mắt nhìn An Tư, trông sắc mặt nàng tôi cũng nhận ra chắc nàng đang suy nghĩ giống tôi.
Suốt đêm tôi thao thức không chợp mắt, câu nói cuối cùng của ông lão vẫn ám ảnh trong tôi. Là một con dân Đại Việt sao có thể hèn nhát trốn chạy sự đời như vậy được? Tôi bật dậy, bước ra ngoài. Vầng trăng sáng của ngày mười lăm soi xuống mặt đất, in bóng người con gái đang ngồi lặng lẽ trên bậc hè. Tôi tiến lại gần, thật chậm và ôm nàng từ phía sau. Hít một hơi sương lạnh, giọng tôi nhỏ nhẹ phả vào tai nàng:
“Có phải nàng đang nghĩ ta thật hèn nhát không?”
An Tư lắc đầu, nàng nói:
“Không! Chỉ là lời nói của cụ già khiến ta cảm thấy thật hổ thẹn.”
Vậy là rõ rồi, nàng thật sự không thể dứt bỏ mọi thứ để cùng tôi theo đuổi niềm hạnh phúc của riêng mình. Tôi suy nghĩ giây lâu sau mới lên tiếng:
“Ngày mai nàng có muốn cùng ta trở về Thiên Trường không?”
An Tư thoáng giật mình, quay lại nhìn tôi ngạc nhiên. Tôi biết, cho dù chúng tôi có đi đâu, cho dù chúng tôi sống một cuộc sống yên bình thì sẽ chẳng thể cảm thấy thoải mái khi mà ngoài kia, người dân Đại Việt đang phải chịu cảnh thương ly từ cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc này. Có thể An Tư đã nghĩ đến chuyện sẽ quay lại, chỉ là nàng chưa dám nói ra vì sợ tôi sẽ buồn lòng vậy nên chi bằng tôi cứ nói ra trước cho nàng cảm thấy nhẹ nhõm hơn.
“Nàng chỉ cần nhớ rằng, dù nàng ở đâu ta vẫn sẽ luôn dõi theo nàng.” Tôi cố gượng cười để nàng không cảm thấy có lỗi mà ra đi nhưng trong tim tôi lại chua xót vô cùng.
An Tư tựa đầu vào người tôi, khẽ thì thầm.
“Cám ơn chàng!”
Tôi mím chặt môi, mắt cũng hướng lên ánh trăng cố không cho giọt lệ trào ra nhưng sao khó quá. Dẫu thế nào, nước mắt vẫn không nghe lời tôi, cứ vô thức vượt qua khóe mi lăn dài xuống má. Tôi không muốn An Tư trông thấy điều này nên vội vàng đưa tay lên quệt đi. Đêm tối dần trở nên lạnh lẽo hơn. Tôi xiết chặt lấy bờ vai nàng để nàng cảm nhận được hơi ấm từ tôi, để tôi hít mùi oải hương trên tóc nàng, để tim tôi mãi khắc sâu tên nàng trong tim, để cái khoảnh khắc đẹp đẽ này mãi không phai nhòa.
Trên cao, vầng trăng soi sáng xuống nhân gian một màu bàng bạc, áng mây lặng lẽ trôi qua hờ hừng chào tạm biệt vầng trăng cứ mãi đơn côi trên bầu trời xanh rộng lớn.
…
Sáng hôm sau, chúng tôi từ biệt ông lão rồi lên ngựa hướng về phía Thiên Trường mà thẳng tiến. Trên đường trở về chúng tôi cho ngựa đi chậm dãi, thong dong tựa đang ngao du sơn thủy chứ không gấp gáp như lúc đi. Sở dĩ phải đi chậm thế là vì tôi muốn được ở bên nàng nhiều hơn, con đường này tôi thầm ước sẽ dài vô tận. Nếu như chiến tranh không xảy ra, nếu như tôi và nàng đều sống ở hiện đại thì biết đâu giờ này chúng tôi là có một gia đình yên ấm. Tôi từng nghĩ sẽ cưới một cô vợ hiền, mua một ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên tươi đẹp cố sống một cuộc đời thanh bình nhưng nào ngờ ngày hôm nay lại rơi vào hoàn cảnh trớ trêu thế này.
Ánh mặt trời đã tắt nhường chỗ cho vầng trăng sáng ngự trị nhân gian. Phía xa kia đã thấy đại bản doanh có ánh lửa lập lòe trong đêm, lại thấy bóng quân lính đi qua đi lại canh gác cẩn mật. Quãng đường này đã đến hồi kết thúc thật rồi, ngày hôm nay sao lại ngắn đến vậy? Dù cho tôi có luyến tiếc thì cũng chỉ càng khiến lòng thêm đau, tôi tự nhủ quyết định này của mình sẽ không bao giờ hối hận. Thà để An Tư bất nghĩa với tôi còn hơn để nàng phải mang tiếng xấu bất trung muôn đời, điều ấy có gì không đáng?
Chúng tôi tới cổng trại thì dừng lại, xuống ngựa cho quan binh kiểm tra rồi mới được vào. Tôi dẫn An Tư vào trướng gặp nhà vua và Quốc công để nói lên ý nguyện của nàng ngay, tôi và nàng đều sợ nếu chậm trễ sẽ khiến mọi người lo lắng. Thật may, vua và các tướng đều ở đây cả. Khi thấy tôi đi với công chúa thì tất thảy mọi người đều ngạc nhiên nhưng chưa dám lên tiếng, chỉ duy có Nhân Tông là thốt lời kinh ngạc:
“Hoàng cô? Lương thái y? Sao hai người lại đi với nhau?”
Hai chúng tôi quỳ lạy quan gia và thượng hoàng. Sau một hồi trấn tĩnh lại bản thân, An Tư mới ngước nhìn Thánh Tông và cất lời nhưng không phải để trả lời câu hỏi kia:
“Hoàng huynh! Hãy để em sang trại giặc.”
Lời nói tuy ngắn gọn nhưng để thốt ra được những lời ấy lại là cả một quá trình đấu tranh nội tâm quyết liệt. Sau câu nói ấy, ai nấy trong trướng cũng đều giật mình nhìn cô công chúa tuy là phận nữ nhi nhưng lại có một tấm lòng cao cả hơn một đấng trượng phu. Trong lòng chợt thấy hổ thẹn, họ cúi gằm mặt xuống không ai nói thêm câu gì.
Sáng hôm sau, tất cả quan văn võ, vương tôn họ Trần đều ra tiễn đưa An Tư và viên quan Đào Kiên ra bến sông. Duy chỉ có tôi là không đi, tôi không đủ can đảm để gặp nàng lúc này bởi tôi sợ mình sẽ khiến nàng không thể buông tay. Đứng từ phía xa nhìn nàng, gương mặt mộc xinh đẹp không tô son phấn sao mà đượm buồn đến thế, đôi mắt nàng láo liên tìm kiếm rồi lại rơi lệ. Nàng đau, tôi cũng đau gấp trăm ngàn lần nhưng chúng tôi có thể làm được gì đây? Có trách chỉ trách ông trời sao lại nhẫn tâm đến thế?
Khâm từ hoàng hậu bước tới gần, khẽ dùng khăn lụa lau đi nước mắt cho nàng nhưng hễ cứ lau khô thì dòng lệ lại tuôn ra không ngừng. Cuộc chia ly đẫm nước mắt ấy dùng giằng mãi An Tư mới đành lòng ra đi.
Kim Liên đỡ An Tư lên chiếc thuyền sơn son thếp bạc và cùng nàng sang trại giặc. Chiếc thuyền đi xa dần, xa dần mang theo người con gái tôi yêu. Tôi hận giặc và cũng căm giận bản thân mình vô lực không thể bảo vệ cho nàng, tôi đã mất nàng thật rồi ư? Từ nay nàng đã là của người khác rồi ư?. An Tư! Ta thề sẽ giết được nhiều giặc và cứu nàng ra. Xin nàng hãy bảo trọng. Chỉ một giây không cầm lòng được, nước mắt tôi đã trào ra, mặn đắng. Vị mặn này khó nuốt quá.
Thảng thốt mắt nai chiều tiễn biệt,
Con thuyền ly xứ lạc trùng khơi.
Bến xa bờ lạ buồn da diết,
Người đợi chân mây kẻ cuối trời.(3)
____________________________
(0) trích từ 1 bài thơ trên internet nhưng quên mất tiêu đề rồi.
(1) Là di dân theo kế vườn không nhà trống
(2) trích từ bài Nắm tay nhau du ngoạn chốn nhân gian
(3) trích từ Biệt Ly của Bạch Loan

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét